Bài thuốc dân gian chữa bệnh bằng cây bình vôi
3 phút, 48 giây để đọc.

Ở Việt Nam, địa hình đồi núi chiếm đa phần vì vậy chúng ta may mắn có nhiều loại thảo dược quý hiếm. Trong Đông y mỗi loại cây cỏ đều có những thành phần và công dụng chữa bệnh khác nhau. Nếu thực sự hiểu về cây cỏ thì chắc chắn chúng ta có thể chiết xuất và sử dụng để chữa nhiều loại bệnh cùng một lúc. Trong y học cổ truyền, cây bình vôi được xem như một thảo dược quý. Tùy vào từng thể trạng của mỗi người mà chúng ta áp dụng những bài thuốc khác nhau.

Cách nhận biết cây bình vôi

Cây bình vôi rất quen thuộc với chúng ta. Nhất là đối với người dân ở các vùng có nhiều rừng, núi đá vôi. Đây là một vị thuốc quý trong danh sách những dược liệu của Việt Nam, có khả năng điều trị hiệu quả nhiều chứng bệnh.

Cây bình vôi [Stephaniaglabra (Roxb.) Miers], họ Tiết dê (Menispermaceae) là dây leo, thường xanh, dài đến 6 m. Thân nhẵn hơi xoắn vặn. Lá mọc so le có cuống dài đính vào trong khoảng 1/3 của phiến. Cụm hoa mọc thành xim ở kẽ lá hoặc ở những cành già lá đã rụng. Củ bình vôi là phần thân phình to của cây bình vôi. Cây có tên bình vôi vì phần thân phình to của cây có hình dáng rất giống bình đựng vôi mà ngày xưa nhiều người thường dùng để tôi vôi ăn trầu.

Cách nhận biết cây bình vôi

Quả hạch hình cầu, hơi dẹt, màu đỏ. Hạt cứng hình móng ngựa. Rễ phình lên thành củ, là bộ phận được sử dụng làm thuốc của bình vôi. Bình vôi là cây ưa sáng, thường mọc nơi có nhiều cây bụi ở rừng núi đá vôi. Phổ biến ở các tỉnh Hòa Bình, Thanh Hóa, Ninh Bình… và các tỉnh vùng Đông Bắc, Tây Bắc.

Thành phần dược liệu

Rễ củ chứa alcaloid L – tetrahydropalmatin, cepharantin, cepharanolin, cepharamin… Ở Việt Nam có nhiều loài bình vôi khác nhau. Do đó ở mỗi loài lại cho một số thành phần alcaloid khác nhau. Trên thực nghiệm, chất L – tetrahydropalmatin của bình vôi và hỗn hợp alcaloid chiết xuất từ một số loài bình vôi có tác dụng an thần; chống co giật, hạ huyết áp, hạ sốt…

Tác dụng chữa bệnh của cây bình vôi

Theo YHCT, bình vôi được dùng trị chứng suy nhược thần kinh, mất ngủ, động kinh, điên giản, đau dạ dày, viêm phế quản… thường phối hợp với các vị thuốc khác. Liều dùng, ngày 4 – 12g, dạng thuốc sắc hoặc thuốc bột.

Chất Rotundin trong củ có tác dụng trấn tĩnh thần kinh, vì vậy rất có lợi trong việc điều trị chứng bệnh giật kinh phong, chống co quắp. Chất này còn có tác dụng điều hòa tim mạch nên dùng để điều trị bệnh đau tim, chống co thắt cơ vành, hạ huyết áp, có thể dùng để trị hen suyễn vì có tác dụng điều hòa hô hấp. Tác dụng rõ rệt nhất của Rotundin là an thần, nhưng nếu dùng với liều lượng cao sẽ gây kích thích thần kinh trung ương dẫn đến co giật.

Kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học Liên xô về tác dụng của hoạt chất Rotundin trong củ bình vôi: Rotundin rất ít độc. Hoạt chất Rotundin có tác dụng trấn kinh. Rotundin có tác dụng bổ tim. Vì vậy chác nhà khoa học Liên Xô chứng minh hoạt chất Rotundin có tác dụng an thần, gây ngủ, chống co quắp và hạ huyết áp.

Một số bài thuốc với cây bình vôi

Trị suy nhược thần kinh, động kinh: bình vôi, câu đằng, thiên ma, viễn chí, đồng lượng 12g. Sắc uống, ngày một thang.

Một số chứng bệnh thường dùng bình vôi

Trị mất ngủ do thần kinh căng thẳng: bình vôi, lạc tiên, vông nem, mỗi vị 12g, liên tâm 6g, cam thảo 6g, sắc uống, ngày một thang.

Trị đau dạ dày, loét dạ dày, hành tá tràng, lỵ: bình vôi, dạ cẩm, khổ sâm cho lá, xa tiền tử, mỗi vị 12g. Sắc uống, ngày một thang.

Trị viêm nhiễm đường hô hấp, viêm họng, viêm khí quản mạn tính: bình vôi, huyền sâm, cát cánh, mỗi vị 12g, trần bì 10g. Sắc uống, ngày một thang.

Trong củ bình vôi có chứa một lượng độc tố nhỏ. Vì vậy không nên tự ý dùng thuốc, cần phải theo sự hướng dẫn chặt chẽ của bác sĩ.

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

error: Content is protected !!